Tiêu điểm

Công nghệ y tế ở Việt Nam: Lạc quan chừng mực

3 tuần trước
Vũ Thái Hà

Công nghệ y tế đã và đang làm được gì cho y tế, hay cụ thể hơn là cho công cuộc chăm sóc sức khỏe của người dân?

Share
this:

Y tế là một trong những lĩnh vực được chính phủ Việt Nam xem như một ưu tiên hàng đầu trong chiến lược và chương trình chuyển đổi số quốc gia. Đây là chuyện dễ hiểu, bởi chăm sóc sức khỏe người dân luôn là vấn đề an sinh xã hội ‘nóng’ nhất, và đặc biệt là một mục tiêu ưu tiên ở các quốc gia đang phát triển như Việt Nam.

Công nghệ phục vụ y tế là nội dung được nhắc thường xuyên trên các diễn đàn và phương tiện thông tin đại chúng những năm vừa qua, khiến cộng đồng vừa tò mò vừa băn khoăn, không rõ công nghệ đã và đang làm được gì cho y tế, hay cụ thể hơn là cho công cuộc chăm sóc sức khỏe của người dân.

Những gì được nhắc đến nhiều nhất

Các dự báo và thảo luận gần đây về thị trường thế giới và trong nước đều đưa ra những nhận định tích cực về việc đầu tư cho công nghệ trong y tế sẽ tiếp tục gia tăng, trong đó các lĩnh vực được chú trọng và được đặt nhiều kỳ vọng có thể kể đến:

•  Y tế từ xa (telemedicine), bao gồm khám chữa bệnh trực tuyến và chăm sóc sức khỏe tại nhà
•  Chăm sóc y tế tùy chỉnh theo cá nhân hay y tế
cá nhân hóa
•  Chăm sóc y tế dựa trên di truyền
•  Thiết bị đeo có kết nối Internet và thiết bị giám sát người bệnh từ xa
•  Trí tuệ nhân tạo (AI) và ứng dụng dữ liệu lớn (big data) trong chẩn đoán và điều trị
•  Thực tế ảo và các mô phỏng trong điều trị
•  Thiết bị can thiệp y khoa chính xác

Mục đích mà tất cả các tiến bộ công nghệ đang hướng tới là cung cấp cho người dân các dịch vụ y tế thuận tiện, có khả năng chẩn đoán và điều trị tốt, đồng thời tiết kiệm chi phí.

Ông Vũ Thái Hà, giám đốc Vận hành eDoctor.

Tất nhiên, bao trùm lên toàn bộ hoạt động của một cơ sở y tế điển hình vẫn là bài toán số hóa và tự động hóa các quy trình vận hành và cung cấp dịch vụ cho người bệnh thông qua hệ thống ứng dụng quản lý bệnh viện và bệnh án điện tử. Nếu các công cụ này không đủ mạnh thì rất khó triển khai và ứng dụng các công nghệ khác.

Trên bình diện quản lý xã hội, quản lý sức khỏe của người dân là nhu cầu bức thiết của chính quyền, không chỉ bởi vì chăm sóc tốt sức khỏe nhân dân là đặc điểm quan trọng của nhà nước phúc lợi, mà còn bởi vì đấy là công cụ quản lý rủi ro xã hội bắt buộc phải có. Chỉ bằng cách phát triển một hệ thống y tế tốt, có khả năng quản lý sức khỏe của người dân một cách hiệu quả thì an sinh xã hội mới được đảm bảo.

Trong khi đó, mọi bài toán quản lý đều bắt đầu từ dữ liệu, thiếu dữ liệu tức là thiếu cơ sở cho các quyết định quản lý. Đã từ rất lâu, nhu cầu về một hệ cơ sở dữ liệu dân cư tập trung ở cấp quốc gia, trong đó dữ liệu về sức khỏe là một phần quan trọng, đã được đặt ra. Hơn bao giờ hết, nhu cầu này đang trở thành một nhu cầu bức thiết, khi các kinh nghiệm và bài học của phòng chống và chung sống với COVID-19 vẫn còn nóng hổi. Một lần nữa, công nghệ phải nhận lấy vai trò của mình.

Vấn đề không đơn giản

Nếu chỉ đơn thuần lắng nghe các luồng thông tin về xu hướng và dự báo thì có lẽ người ta dễ dàng đi đến kết luận rằng công nghệ đang nhanh chóng giúp giải quyết các vấn đề nóng nhất của y tế và chăm sóc sức khỏe. Tuy nhiên, trong thực tế mọi chuyện lại không dễ dàng như vậy.

Khi đánh giá về hệ sinh thái y tế số Việt Nam, ông Trần Hồng Quang, điều phối quốc gia của Sáng kiến Dữ liệu cho Sức khỏe Vital Strategies, cho rằng: “Y tế là một lĩnh vực có rào cản gia nhập ngành ở mức độ cao. Ngay cả trên thế giới, các tập đoàn công nghệ lớn (Google, Microsoft, Apple) đều gặp khó khăn khi gia nhập vào lĩnh vực chăm sóc sức khỏe.

Chính vì vậy hệ sinh thái y tế số của Việt Nam đang còn rất non trẻ trên cả phương diện số lượng các giải pháp và các bên tham gia cũng như phương diện mức độ “chất xám y tế” của các giải pháp. Phần lớn các giải pháp hay tập trung ở khía cạnh “số hóa” – chứ chưa thực sự chạm đến “chuyển đổi”.

Đánh giá đó không có gì là khó hiểu, có thể diễn giải theo ngôn ngữ quen thuộc là hệ sinh thái y tế số mà chúng ta đang có hiện nay vẫn còn thiếu và yếu.

Chưa kể, hành lang pháp lý cho các hình thức cung cấp dịch vụ mới trong y tế cũng là một vấn đề lớn. Đơn cử như trường hợp của khám chữa bệnh từ xa. Mặc dù đã được đưa vào luật Khám chữa bệnh từ rất sớm nhưng các quy định của luật vẫn chưa đủ cụ thể để loại hình dịch vụ này có thể được triển khai rộng rãi hơn, mà quan trọng nhất là triển khai được dịch vụ trực tiếp từ bác sĩ đến người bệnh bằng hình thức khám chữa bệnh từ xa.

Thật ra, đây là một vấn đề lớn, khó và nhạy cảm, khi nhìn từ một góc nhìn rộng để xét đến các khía cạnh quan trọng nhất của vấn đề, với các câu hỏi cụ thể như công nghệ đã thực sự đáp ứng được yêu cầu của thực hành y khoa chưa, an toàn của người bệnh sẽ được đảm bảo bằng cách nào, và đáng kể hơn nữa là việc triển khai rộng rãi mô hình này sẽ tác động thế nào đến kinh tế y tế của quốc gia.

Nhắc đến công nghệ phục vụ y tế và tác động xã hội của nó thì không thể quên Đánh giá công nghệ y tế (Health Technology Assessment, HTA), là công tác đánh giá, phân tích các khía cạnh y học, dịch tễ học, xã hội học và kinh tế học của các công nghệ y tế (bao gồm thuốc, vaccine, vật tư y tế, thiết bị y tế, dịch vụ y tế và cả các can thiệp y tế công cộng).

Trong đó, đánh giá kinh tế y tế là khía cạnh được quan tâm đáng kể, làm cơ sở cho việc ban hành danh mục thuốc và dịch vụ được quỹ bảo hiểm y tế (BHYT), ngân sách nhà nước hoặc các nguồn tài chính y tế công chi trả.

Ở Việt Nam, trong bối cảnh nguồn lực dành cho y tế ngày càng trở nên khan hiếm, quỹ BHYT phải bao phủ ngày càng nhiều dịch vụ y tế, và y tế công vẫn là nguồn lực chủ đạo trong chăm sóc sức khỏe người dân, thì đánh giá công nghệ y tế là việc làm có ý nghĩa rất lớn trong quá trình hoạch định chính sách y tế và chính sách BHYT.

Vai trò của công tác này đã được xác định trong Chiến lược quốc gia bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân giai đoạn 2011 – 2020, tầm nhìn đến năm 2030: “Xây dựng các tiêu chuẩn và triển khai công tác đánh giá công nghệ y tế để xác định các can thiệp y tế có hiệu lực, hiệu quả, chi phí thấp, bảo đảm chất lượng dịch vụ y tế”.

Đặt lại vấn đề như vậy để thấy rằng, ngay cả khi các giải pháp và dịch vụ công nghệ phục vụ y tế đã sẵn sàng về mặt sản phẩm thì chúng vẫn cần phải vượt qua rất nhiều thử thách khác trước khi trở thành lựa chọn của người dân một cách rộng rãi.

Thực tế đang có gì?

Từ góc nhìn khác, có thể phân các giải pháp, sản phẩm và dịch vụ công nghệ y tế ở Việt Nam vào các nhóm như sau:
•  Hạ tầng số: kênh truyền, giải pháp lưu trữ, giải pháp xử lý và tính toán
•  Ứng dụng quản lý y tế: phần mềm quản lý điều hành, phần mềm quản lý bệnh viện (HIS), hệ cơ sở dữ liệu bệnh án điện tử (Electronic Medical Record, EMR)…
•  Ứng dụng phục vụ khám chữa bệnh: RIS (Radiology Information System), PACS (Picture Archieving and Communication System), LIS (Laboratoty Information System), hội chẩn từ xa, khám chữa bệnh từ xa
•  Công nghệ dược phẩm, sinh học
•  Trang thiết bị, máy móc hỗ trợ và can thiệp y khoa

Nhìn nhận một cách thẳng thắn, nếu như hạ tầng số từ lâu đã không còn là vấn đề, thì các nhóm khác chưa thật sự có được thành tựu gì đáng kể hiểu theo nghĩa là chúng chưa chứng minh được khả năng đóng góp vào công cuộc cải tổ nền y tế của quốc gia.

Các ứng dụng quản lý y tế vẫn đang được sử dụng để phục vụ cho việc vận hành các cơ sở y tế và cung cấp dịch vụ cho người dân, nhưng để chúng trở thành các thành tố tích cực và hữu dụng trong việc xây dựng hệ cơ sở dữ liệu bệnh án điện tử, mà xa hơn là dữ liệu sức khỏe quốc gia, thì khoảng cách vẫn còn quá xa. Khả năng tuân thủ các tiêu chuẩn dữ liệu, tiêu chuẩn kết nối và chi phí của việc tùy biến trong quá trình vận hành đang là trở ngại lớn.

Các ứng dụng phục vụ khám chữa bệnh lại có vấn đề của riêng chúng; vừa là công cụ trực tiếp của người thực hành chuyên môn, vừa là công cụ để tạo nên chất lượng dịch vụ cho người bệnh, các ứng dụng này đã được triển khai từng bước và đã phát huy tác dụng đáng kể. Tuy nhiên, vấn đề của việc ứng dụng chúng lại cần phải được thể chế hóa thì các dịch vụ mới có thể trở thành lựa chọn phổ biến và được BHYT chi trả.

Các nhóm khác như công nghệ dược, sinh học và trang thiết bị chính xác đến nay vẫn không phải là thế mạnh của Việt Nam, luôn đòi hỏi một quá trình đầu tư và phát triển rất sâu sắc và dài hạn, trải dài từ nghiên cứu khoa học cho đến làm ra sản phẩm đáp ứng yêu cầu của ngành y tế.

Để trở nên thiết thực hơn

Công nghệ là công cụ hữu dụng trong các thay đổi lớn có khả năng biến chuyển nhanh một ngành hay một lĩnh vực nào đó trong nền kinh tế. Tận dụng sức mạnh của công nghệ là việc cần làm và phải làm. Tuy nhiên, y tế lại không phải là lĩnh vực có thể vội vã.

Việc khuyến khích các sáng kiến và đầu tư vào y tế số là quan trọng và cần phải được tiếp tục đẩy mạnh hơn nữa. Chỉ với các đầu tư nghiêm túc và đủ về số lượng thì thị trường mới có cơ hội chọn lọc cho nó những giải pháp và sản phẩm phù hợp, có sức sống để góp phần vào phát triển dịch vụ phục vụ cho xã hội.

Nếu cần đưa ra một đề xuất cụ thể thì đó là cần ưu tiên ứng dụng công nghệ để tạo ra các trải nghiệm thuận tiện hơn cho người dân và cùng lúc đó giúp cho các cơ sở y tế tối ưu được nguồn lực nhờ vận hành hiệu quả hơn. Các ứng dụng khác của công nghệ, chẳng hạn ứng dụng công nghệ trong điều trị, dược phẩm hay can thiệp, sẽ cần các đầu tư sâu và dài hạn, cho nên không thể cho kết quả sớm.

Bản in theo tạp chí Forbes Việt Nam số 109, tháng 9.2022