Công kích của Tổng thống Trump vào nguồn tài trợ, tuyển sinh quốc tế và các khoản vay, đã làm chậm nhiều chương trình sau đại học tại Mỹ suốt thập kỷ qua.
Hơn một thập kỷ qua, chương trình sau đại học là động lực tăng trưởng cho nhiều trường ở Mỹ, được thúc đẩy bởi hàng chục tỷ USD hỗ trợ nghiên cứu từ chính phủ liên bang, học phí từ sinh viên quốc tế và chính sách vay hào phóng của chính phủ cho công dân Mỹ lẫn thường trú nhân. Giờ đây, ông Trump với sự hỗ trợ của quốc hội do đảng Cộng hòa kiểm soát, đang ngắt những “mạch sống” này. Giai đoạn khó khăn đã bắt đầu.
Chính phủ đã đóng băng các khoản tài trợ nghiên cứu cho nhiều đại học mà ông Trump xem là quá “cấp tiến”, như Harvard, Columbia, Cornell, Northwestern hay California. Ngoài ra, ông cũng hủy 7 tỷ USD hỗ trợ khoa học cho hơn 600 trường trên khắp 50 tiểu bang, hạn chế mạnh mẽ thanh toán chi phí quản lý cho các trường và có thể cắt giảm nhiều hơn trong năm tài chính 2026 bắt đầu từ ngày 1.10.2025. Một sắc lệnh cuối năm 2025 của ông Trump yêu cầu mọi khoản tài trợ mới, cần được các quan chức chính trị phê duyệt cũng như chính quyền có thể chấm dứt bất cứ lúc nào nếu nhận thấy bị thay đổi sai mục đích.
Các trường cũng cảm nhận được ảnh hưởng tiêu cực từ chính sách khắc nghiệt của ông Trump với sinh viên quốc tế. Theo Hiệp hội các nhà giáo dục quốc tế (NAFSA), một tổ chức phi lợi nhuận của Hoa Kỳ, số lượng sinh viên quốc tế nhập học có thể giảm từ 30% – 40% trong năm 2026, khiến tổng lượng sinh viên quốc tế tại Mỹ ít đi khoảng 15%. Chính phủ đã tạm dừng cấp thị thực sinh viên, bổ sung kiểm tra mạng xã hội vào quá trình xét duyệt; hạn chế hoặc cấm cấp thị thực cho cư dân 19 quốc gia; cũng như cố gắng trục xuất sinh viên quốc tế biểu tình ủng hộ Palestine. Chính phủ đang nỗ lực tước quyền tuyển sinh viên quốc tế của Đại học Harvard, mặc dù tòa án đã ngăn cản động thái này.
Những lực cản trên khiến ít nhất 25 trường tư thục lớn trong danh sách đại học hàng đầu của Mỹ do Forbes bình chọn, trở nên dễ tổn thương. Mỗi trường có ít nhất 2.000 sinh viên sau đại học trong năm học 2022-2023, chiếm khoảng 35% tổng số sinh viên. Khoảng hơn 25% số này đang học tại Mỹ bằng visa sinh viên.
Một trưởng khoa ở Đại học Chicago nói giữ nguyên hiện trạng không phải cách hay. Khoa của bà đang sáp nhập 15 bộ môn thành 8.
Đáng chú ý danh sách trên bao gồm nhiều trường tiếng tăm nhất nước Mỹ, trong đó có 6/8 thành viên Ivy League. Những trường này đang đối mặt với sự điều chỉnh khó khăn, bởi họ là các tổ chức giáo dục nhận tài trợ nghiên cứu rất lớn từ chính phủ.
Đứng đầu danh sách là Đại học Columbia ở New York, với số sinh viên năm học 2022-2023 gồm 72% sau đại học trong đó 49% đến từ nước ngoài. Tháng 7.2025, Columbia ký thỏa thuận với chính quyền ông Trump, theo đó nhà trường sẽ trả 221 triệu USD cho chính phủ, cung cấp thêm thông tin về sinh viên không phải người Mỹ và giảm bớt sự phụ thuộc tài chính vào sinh viên quốc tế. Đổi lại, khoản trợ cấp liên bang 1,3 tỷ USD và một số nguồn khác sẽ được nối lại. Giới quan sát đánh giá, đây là “lựa chọn bắt buộc”.
Trong khi đó, đạo luật “One Big Beautiful Bill Act” (OBBBA) ông Trump ký tháng 7.2025, đã cắt giảm 307 tỷ USD chi phí cho sinh viên vay trong thập kỷ tới, một phần bằng cách làm cho việc trả nợ khó khăn hơn. Đạo luật này cũng chấm dứt chương trình cho vay “Grad Plus” dành cho sinh viên nhập học sau ngày 1.7.2026. Sinh viên cao học hiện tại vẫn có thể vay để lo chi phí, như học phí, lệ phí, sách vở, nhà ở và ăn uống. Tuy nhiên sinh viên cao học trong tương lai chỉ có thể vay tối đa 20.500 USD mỗi năm, giới hạn tối đa là 100.000 USD. Sinh viên y khoa, nha khoa, luật và trường hợp đặc biệt được vay tối đa 50.000 USD mỗi năm, giới hạn tối đa là 200.000 USD. Phần lớn sinh viên đang vay tiền hiện nay đã vượt qua giới hạn tối đa mới này. Ước tính khoảng 73% sinh viên nha khoa có vay tiền trong năm học 2019-2020 đã mắc nợ hơn 50.000 USD.
OBBBA cũng chỉ trích các đại học tư thục giàu có, như MIT, Harvard, Princeton, Yale, Washington và nhiều trường khác. Tất cả đang đối mặt mức thuế cao hơn đáng kể so với lợi nhuận từ quỹ tài trợ.

Trước vô số thay đổi, nhiều trường vẫn chưa đưa ra kế hoạch tái cấu trúc dài hạn, chỉ phản ứng mang tính tức thời như đóng băng tuyển dụng, sa thải nhân viên và giảm (hoặc dừng) tuyển sinh mới một số chương trình tiến sĩ phụ thuộc các khoản tài trợ. Đại học John Hopkins, tổ chức giáo dục nhận nhiều tài trợ và hợp đồng từ chính phủ, ước tính 4 tỷ USD chiếm 41% ngân sách 2022-2023, đã mất 800 triệu USD khi Bộ Hiệu quả Chính phủ (DOGE) giải thể Cơ quan Phát triển Quốc tế Hoa Kỳ (USAID). Tháng 3.2025, trường cắt giảm 2.200 việc làm, hầu hết ở nước ngoài. Tháng 6.2025, viện dẫn sự sụt giảm nguồn tài trợ (giảm 2/3 từ tháng 1.2025), khó có sinh viên quốc tế và các khoản vay cho sinh viên gặp khó khăn, đại học John Hopkins dừng tuyển dụng và dừng tăng lương cho bất kỳ ai thu nhập trên 80.000 USD mỗi năm. Đại học Northwestern, nơi có 790 triệu USD tài trợ bị đóng băng, đã sa thải 425 vị trí. Đại học Duke, một trung tâm đào tạo sau đại học và nghiên cứu hàng đầu khác, gần 600 nhân viên và 40 giảng viên đã tự nguyện thôi việc. Các đợt sa thải không tự nguyện đang được tiến hành.
Bà Deborah Nelson, trưởng khoa Nghệ thuật & Nhân văn tại Đại học Chicago nói: “Giữ nguyên hiện trạng không phải lựa chọn thực tế.” Mười lăm bộ môn do bà phụ trách, đang được sáp nhập thành 8 bộ môn. Bà đã liệt kê một số lý do vì sao tái cấu trúc là cần thiết. Ví dụ thuế trên tiền tài trợ cao hơn, thay đổi về chính sách cho sinh viên vay cùng nhiều quy định bất lợi cho sinh viên quốc tế. Bà cũng đề cập khả năng kinh tế suy thoái, dẫn đến giảm nguồn quyên góp.
• • •
Theo Trung tâm Thống kê Giáo dục Quốc gia Hoa Kỳ, từ năm học 2011-2012 đến 2021-2022, số lượng bằng tiến sĩ (bao gồm cả luật, y khoa và nha khoa) được trao hàng năm tăng 20% lên 203.900, bằng thạc sĩ tăng 16% lên 880.200, bằng cử nhân chỉ tăng 12% lên 2.015.035.
Thật khó để đánh giá hết tầm quan trọng của sinh viên quốc tế cùng các khoản vay cho sinh viên đối với nhiều trường đại học. Trợ cấp liên bang là nguồn tài trợ nghiên cứu lớn nhất và hỗ trợ nhiều nghiên cứu sinh tiến sĩ nhất. Tuy nhiên số tiền này trên tổng kinh phí nghiên cứu của các trường đại học trên thực tế cũng đang giảm mấy năm qua.
Quốc hội Mỹ đã khởi động chương trình cho sinh viên vay tiền Grad Plus năm 2006, trước khi suy thoái diễn ra khiến tỷ lệ thất nghiệp của người mới tốt nghiệp đại học (22 đến 27 tuổi) tăng vọt từ 3,4% năm 2007 lên 7,9% năm 2010. Tỷ lệ này có thể còn cao hơn nếu nhiều người trẻ không ở lại trường để học thêm, sống nhờ các khoản tài trợ hoặc vay của chính phủ, hoặc chấp nhận công việc làm thêm không yêu cầu bằng cấp.
Ông Robert Kelchen, trưởng khoa Nghiên cứu chính sách và Lãnh đạo giáo dục tại Đại học Tennessee nhận xét: “Khi kinh tế suy yếu, nhiều sinh viên chọn quay lại học thêm, để tạo sự khác biệt trên thị trường lao động. Cộng với các khoản vay của chính phủ, đã tạo ra cuộc chạy đua bằng cấp sau đại học. Nhiều người có bằng cấp cao hơn (đặc biệt là thạc sĩ), tiêu chuẩn kỹ năng được nâng lên. Nhà tuyển dụng lẫn người tìm việc đều cho rằng, bằng cấp bổ sung rất quan trọng.”

Nhận thấy nhu cầu cao và dễ trở thành nguồn tiền dồi dào, nhiều trường nhanh chóng mở các chương trình thạc sĩ. Một số chương trình thậm chí bị nghi ngờ về chất lượng và sự tin tưởng. Theo nhiều nghiên cứu, từ năm học 2004-2005 đến 2021-2022, số lượng chương trình thạc sĩ ở những trường đại học tư thục của Mỹ tăng gần gấp đôi.
Sự tăng lên này không đồng đều giữa các lĩnh vực. Số lượng thạc sĩ về khoa học máy tính, khoa học thông tin và dịch vụ hỗ trợ; các ngành về y tế; hành chính công và dịch vụ xã hội tăng mạnh nhất trong giai đoạn 2011–2022, lần lượt là 145%, 75% và 20%. Thạc sĩ về quản trị kinh doanh, lĩnh vực từ lâu được khẳng định là con đường thăng tiến, chỉ tăng 7%.
Không có giới hạn về khoản vay cho sinh viên cao học, nên chi phí ròng cho học phí và lệ phí chương trình thạc sĩ (chi phí đã trừ trợ cấp từ nhà trường) bắt đầu tăng nhanh hơn chi phí ròng của chương trình đại học. Số tiền sinh viên đại học có thể vay vẫn ở mức giới hạn từ 5.500 USD đến 12.500 USD mỗi năm, tùy vào năm học và khả năng tự lập của sinh viên.
Bà Michelle Dimino, giám đốc chương trình giáo dục của tổ chức tư vấn Third Way tại Washington chia sẻ: “Nhiều trường đại học đã rơi vào tình trạng học phí sau đại học trở thành nguồn thu chính. Họ cần nhanh chóng thay đổi cách thức hoạt động và cơ cấu lại tổ chức.”
Nhiều đại học phụ thuộc vào học phí cao học như nguồn thu chính.
Các chương trình sau đại học của Mỹ, đặc biệt về công nghệ, kỹ thuật và toán học (STEM), ngày càng phụ thuộc vào sinh viên quốc tế. Năm học 2021-2022, chỉ khoảng 16% bằng thạc sĩ và tiến sĩ về STEM được trao ở Mỹ. Nhưng trong số này, sinh viên quốc tế chiếm 44% bằng thạc sĩ và 58% bằng tiến sĩ.
Sau khi giảm sút trong thời kỳ Covid-19, số lượng sinh viên quốc tế học sau đại học ở Mỹ đạt mức cao nhất vào năm 2023-2024, với số lượng 502.291, tăng 8% so với năm trước đó. Ngược lại, số lượng sinh viên đại học quốc tế lại giảm 1%, xuống còn 342.875 người.
Một trong những yếu tố thu hút sinh viên quốc tế theo học tại Mỹ, là muốn ở lại làm việc sau khi tốt nghiệp. Năm học 2023-2024, con số kỷ lục 242.782 sinh viên quốc tế tham gia chương trình OPT (Optional Practical Training) cho phép ở lại làm việc 1 năm sau khi tốt nghiệp hoặc 3 năm nếu học về STEM. Tuy nhiên chính quyền ông Trump đang xem xét lại chính sách nhập cư, muốn chấm dứt hoặc hạn chế ưu ái cho sinh viên STEM. Đây có thể là đòn nữa giáng vào các trường đại học cũng như sức hấp dẫn của giáo dục Mỹ.
Biên dịch: NVP — Nội dung đã được đăng trên Tạp chí Forbes Việt Nam số tháng 3.2026
Theo forbes.baovanhoa.vn (https://forbes.baovanhoa.vn/khi-harvard-va-ivy-league-tro-thanh-muc-tieu-cat-giam-ngan-sach-cua-washington)